| Nghi Thức An Táng - 2015 Imprimatur - Tp Hồ Chí Minh ngày 24.04.2014 |
| NHỮNG ĐIÊU CẦN BIẾT TRƯỚC |
|
1. Hội Thánh kính cẩn cử hành màu nhiệm Vượt qua của Chúa Kitô trong nghi thức an táng con cái mình, để những ai nhờ bí tích Rửa tội đã trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô đã chết và đã phục sinh, được cùng vói Người vượt qua sự chết đến sự sống, ngõ hầu, về phần hồn họ được thanh luyện và được đón nhận vào Nước Trời cùng với các Thánh và các kẻ được tuyển chọn, còn về phần xác họ mong đợi niềm hy vọng hồng phúc là ngày trở lại của Chúa Kitô và sự phục sinh của những ngươi đã chết. Vì thế, Hội Thánh dâng hy lễ tạ ơn tưởng niệm cuộc Vươt qua của Chúa Kitô cầu cho những người đã qua đời, và đọc kinh cầu nguyện cho họ, để hy lễ và những lời cầu nguyện này đem lại cho tất cả mọi chi thề của Chúa Kitô đạng thông hiệp với nhau, kẻ thì sự trợ giúp thiêng liêng, người thì niềm an ủi cho điều mình trông đợi. 2. Khi cử hành nghi thức an táng cho anh chị em mình, người tín hữu phải lo khẳng định niềm hy vọng vào sự sống vĩnh cửu nhưng không nên tỏ ra không biết đen hoặc coi thường quan niệm về những người quá cố của nhưng người sống đồng thời hay củng địa phương và cách cư xử của họ với người đã qua đời. Bởi thế, nếu thấy bất cứ điều gì tốt lành liên quan đến các truyền thống của gia đình, hoặc những tập quán của đìa phương hay cac hội đoan đã được thành lập để lo việc an táng, thì hãy vui mừng chấp nhận, còn những gì xem ra ừái ngược với Tin Mừng, thì hãy tìm cách thay đổi, ngõ hầu cách thức cử hành an táng cho người tín hữu vừa biểu lộ niềm tin vượt qua, vừa thiết thực chứng minh tinh thần Tin Mừng. 3. Tuy phải tránh những phô trương vô bổ, nhưng phải tôn kính thỉ hài các tín hữu đã qua đời vì là đền thờ của Chúa Thánh Thần; vì thê rất nên chứng tỏ niềm tin vào cuộc sống vĩnh cửu và việc đọc kinh cầu nguyện, ít nhất, trong những lúc thuận tiện hơn, từ lúc tắt thở cho đen khi chôn cất. Theo thói quen các nơi, có thể nói, sau đây là những lúc thuận tiện hơn để cầu nguyện: khi canh thức tại nha người quá cố, lúc nhập quan và khi chuyển linh cữu đến phần mộ. Trọng những lúc âồ? những người thân hoặc nếu có thể, cả cộng đoàn sẽ tập họp lại đế nghe lời an ủi mang niềm hy vọng trong phần Phụng vụ Lời Chúa, hoặc khi dâng hy lễ tạ ơn và lúc nói lời chào từ biệt người quá cố. 4. Để đáp ứng phần nào với những tập tục của mọi địa phương, nghi thức an táng cho người lớn trình bày ở đây được phân ra ba mẫu:
a/ Mẫu I ba
địa điểm: nhà người quá cố, nhà thờ và phần mộ. 5. Mẫu an táng thứ nhất hoàn toàn giống vói mẫu được trình bày trước đây trọng sách Nghi lê Rôma. Mâu này theo thường lệ, ít là ở thôn quê, gồm ba nơi vơi hai cuộc rước xen kẽ: nhà người quá cố, nhà thờ và nghĩa trang. Tuy nhiên, các cuộc rước này, nhất là tại các thành phố lởn, ít thong dụng hoặc ít thích hợp vi nhiều lý do khác nhau; đàng khác, vì thiếu giao sĩ và vì các nghĩa trang thường ở xa nhà thờ nên các giai đoạn ở nhà tang vả nghĩa trang! nhiều lủc linh mục khồng the chủ sự được. Vì những ly do kể ừên, khi không có linh mục hay phó tế, khuyẽn các tín hữu tự mình đọc các lời nguyện và các thánh vịnh thường dùng; nếu cả điều này cũng không thực hiện được, thì có thể bỏ qua các giai đoạn ở nhà tang và nghĩa trang. 6. Theo mẫu thứ nhất này, giai đoạn ở nhà thờ thường gồm việc cử hành Thánh lễ an táng. Chỉ cấm cử hành lễ an táng trong Tam Nhật Thánh, các ngày lễ trọng buộc (x. Quy chế tổng quát sách lễ Rôma, số 380), các Chúa nhật mùa Vọng, mùa Chay và mùa Phục sinh. Nếu, hoàn cảnh mục vụ khuyên nên an táng (vào những ngày này), thì đựợc làm nghi thức an táng tại nhà thờ mà không cử hành Thánh lễ (dầu vậy, ngan nào có thể, nên tùy nghỉ cử hành Thánh lễ an táng vào ngày khác), còn Phụng vụ Lời Chua thì bao giờ cũng phải cử hành. VÍ thế, du có hay không cử hành Thánh lễ, trong giai đoạn tại nhà thờ luôn phải cử hành Phụng vụ Lòd Chúa cùng với nghi thức trước đây gọi là nghi thức “xá giải” (absolutio) cho người quá cố, nhưng từ nay sẽ gọi là nghi thức ‘‘phó dâng và từ biệt lần cuối”. 7. Mẫu an táng thứ hai chỉ gồm hai giai đoạn: tai nghĩa trang, tức nhà nguyện nghía trang và tại phần mộ. Trong mẫu an táng nay, không tiên liệu việc cử hành Thánh Thể. Tuy nhiên, được cử hành Thánh le an táng trước hoặc sau khi an táng, mà không cần phải có thi hài người quá cố hiện diện. 8. Nghi thức an táng theo mẫu ba, phải cử hành tại nhà người quá cố, cộ thể coi là hoàn toàn vô ích tại một nơi nào đó, nhưng lại xem ra cần thiết ừong nhiều miền. Vì nhận thấy nhiềụ hoàn cảnh khác nhau, nên ở đây khong có ý bàn về từng, sự việc. Dầu vậy, cả trong trường hợp này cũng co thể có những diêm chung với các mẫu khác, ví dụ trong Phụng vụ Lòd Chúa và ừong nghi thức phó dâng và từ biệt lần cuối, nên neu ra ít là ít lòi hướng dẫn. Ngoài ra, các Hội đồng Giám mục có thể đưa ra những quy định riêng. 9. Khi những nghi thức riêng được soạn thảo theo sách Nghi lễ Rôma mới, các Hội đồng Giám mục sẽ tùy nghi giữ lại cả ba mẫu an táng, hoặc thay đôi thứ tự hoặc bỏ đi một mâu nào đó. Vì chưng, có thể là tại một quốc gia nào đó, chỉ cần giữ lại một mẫu, ví dụ mau I với ba giai đoạn và như thế, sẽ bỏ qua những mẫu khác; trong khi tại một quốc gia khác tất cả ba mẫu lại càn thiet. Vì thế, các Hội đồng Giám mục, sau khi xem xét các nhu cầu địa phương, sẽ định đoạt sao cho thích họp. 10. Sau Thánh lễ ạn táng sẽ cử hành nghi thức phó dâng và từ biệt người quá cố làn cụối. Tuy nhiên không được coi nghi thức này như nghi thức thanh tẩy cho người quá cô - thực ra việc thanh tây này được thực hiện nhơ hy lễ tạ ơn - nhưng nó biểu lộ việc từ biệt cuối cùng, qua đó cộng đoàn tín hữu chào tư biệt một chi thể của mình, trước khi thi hài đựợc đem đi hoặc được chôn cẩt. Mặc dầụ trong cái chết luôn có một sự chia lìa nào đó, tuy nhiên, vì là chi thể của Đức Kitô, các Kitô hữu được nện một ừong Người, và không khi nào có thể bị phân tán, dù là sự chêt. Nghi thức này được dẫn nhập bằng lời kêu mời và công bố của vị linh mục; tiếp đến là những giây phút thinh lặng, rồi rảy nước thánh, xông hương và bài ca từ biệt; bài ca này phải được soạn theo một văn ban thích hợp với một giai điệu tương xứng, không những để mọi người cùng hát nhưng phải được mọi người cảm nhận như là đỉnh cao của toan bộ nghi thức. Cả việc rảy nước thánh là nghi lễ gợi nhớ phúc được tham dự vào cuộc sống đời đời nhờ bí tích Rửa tội, và việc xông hương nhằm cung kính thi hài người quá cố như là đên thờ Chúa Thánh Thân, đều được kể là các cử chỉ từ biệt. Chỉ được cử hành nghi thức phó dâng và từ biệt lèn cuối trong chính lúc an táng, nghĩa là khi có thi hài hiện diện. 11. Trong bất cứ cử hành nào cho người quá cố, hoặc lúc an táng, hoặc trong các cử hành thông thường khác, phải dành một chỗ quan trọng cho viec đọc Lời Chúa. Vì chưng, chính những bài đọc này mới công bố mầu nhiệm phục sinh, mới đem đến niềm hy vọng được gặp lại nhau ừong Nước Thiên Chúa, mới hướng lòng ta tưởng nhơ đến người qua cố và thúc đẩy ta trở nên nhân chứng cho cuộc sống Kitô hữu. 12. Trong các buổi cầu nguyện cho người quá cố, Hội Thánh rất thích dùng lời cầu nguyện của các thánh vịnh để diễn tả sự đau buồn và củng cố niềm hy vọng cách hữu hiệu. Vì thế, các chủ chăn phải ân cần dùng những bài giáo lý thích hợp mà hướng dẫn cộng đoàn của mình cho họ hiểu cách rõ ràng và sâu sắc hơn ít là một vài thánh vịnh trong số các thánh vịnh được đề nghị dùng trong nghi thức an táng. Còn trong các bài hát khác, theo tiêu chuẩn mục vụ, thường đã được chỉ định trong nghi thức, thì trước tiên phải lo sao cho có “tâm tình ngọt ngào và sống động của Kinh Thánh" cũng như sức sống của Phụng vụ. 13. Trong khi cầu nguyện, cộnjg đoàn Kitô hữu cũng tuyên xưng đức tin của mình và sốt sắng chuyên cầu cho những người lán đã quạ đời để họ được hạnh phúc nơi Thiên Chúa, hạnh phuc mà họ tin rằng các trẻ em qua đời đã được hưởng, vì nhờ bí tích Rửa tội các em đã trở nên nghía tử của Thiên Chúa. Nhưng, người ta cũng cầu nguyện cho cha mẹ của những trẻ này, cũng như cho các thân nhân của mọi người đã qua đời, để ừong lúc đau buồn họ nhận được niềm an ủi của đức tin. 14. Nơi nào hoặc do luật riêng, hoặc do việc lập thiện quỹ (íundatio), hoặc do tập quán, có thói quen đọc kinh Phụng vụ câu cho người đấ qua đời, ca trong và ngoài giờ an táng, thì co thể giữ lại vĩệc đọc kinh Phụng vụ này, và dĩ nhiên phải thi hành cách trang nghiêm, sốt sắng. Nhưng xét hoàn cảnh cuộc sống và công việc mục vụ hiện nay, có thể thay thế việc đọc kinh Phụng vụ cầu cho người đã qua đời băng việc canh thức hoặc cử hành Lời Chúa (số 27-29). 15. Được cử hành nghi thức an táng Kitô giáo cho những người đã chọn hỏa thiêu thân thể mình, trừ khi biết rõ họ đã chọn lưa như vậy vì những lý do trái nghịch với đời sống Kitô giáo, chiếu theo những quy định của Thánh Bộ Vụ, ngày 8 tháng 5 năm 1963, vê việc hỏa thiêu thân xác, số 2-3 Việc an táng này sẽ được cử hành theo nghi thức quen dùng tại địa phương, nhưng phải làm sao cho người ta thấy rõ là Hội Thánh quý trọng thói quen chôn cất các thi hài hơn, như chính Đức Kitô đã muôn được an táng, đồng thời cũng tránh được nguỵ cơ nên gương xấu cho các tín hữu hay làm cho họ phải bỡ ngỡ vê điều ấy. Trong trường hợp này những nghi thức thường được thực hiện noi nhà nguyện hay tại phần mộ7 cothể được cử hành trong chính ngôi nhà thiêu xác; hơn nữa, nếu thiếu một nơi khác thích hợp, thì được cử hành trong chính căn phòng thiêu xác, nhưng nên khôn ngoan ừánh gương xấu hoặc tinh thần dửng dưng về tôn giáo.
PHẬN SỰ VÀ TÁC VỤ
16. Trong khi cử hành an táng, tất cả mọi người thuộc Dân Thiên Chúa nên nhớ rằng mỗi người được trao cho một phận sự và một tác vụ riêng: như chạ mẹ hay bà con, những người lãnh nhiệm vụ an táng, chính cộng đồng kitô hữu, sau cùng là linh mục, với danh nghĩa là người giáo dục đức tin và là thừa tác viên an ủi. Ngài chủ tọa các việc phụng vụ và cử hành Thánh lễ. 17. Trong phụng vụ an táng, mọi người, nhất là các linh mục, nên nhớ rằng, khi phó dâng người quá cố cho Chúa, họ còn có nhiệm vụ khơi lên niềm hy vọng nơi những người hiện diện, hun đúc lòng tin của họ vào mầu nhiệm Vượt qua và vào sự sống lại của những người đã chết. Tuy nhiên phải làm sao để khi tỏ bày tâm tình đạo đức của Mẹ Hội Thánh và niềm an ủi của đức tin, thì những ai tin, sẽ được nâng đỡ, nhưng những người đang đau buôn, cũng không bị xúc phạm. 18. Trong lúc chuẩn bị và sắp xếp việc cử hành an táng, các linh mục không những phải để ý đến ca nhân và những hoàn cảnh liên quan tới cái chết cua người quá cố, mà còn nên vận dụng lòng nhân ái để cảm thông với noi buon của những người thân va nhưng nhu cầu thuộc cuộc sống Kitô hữu của họ. Hơn thế, phải đặc biệt lưu ý đên những người, nhân dịp lễ an táng sẽ tham dự những cử hành phụng vụ hay nghe đọc Tin Mừng. Họ có thể là những người hoặc ngoài Công giáo, hoặc là người Công giáo, nhưng không bao giờ hoặc họa hiếm mới tham dự Thánh lễ, hoặc hình như đã mất đức tin: vì linh mục là thừa tác viên phải rao giảng TÚI Mừng của Chúa Kitô cho mọi người. 19. Nghi Ịễ An táng, chỉ trừ Thánh lễ, có thể do một phó tế cử hành. Vì nhu cầu mục vụ, Hội đồng Giám mục, vói phép của Tông tòa, cũng có thế ủy nhiệm cho một giáo dân. Nếu không có linh mục và phó tế, thì khi cử hành nghi thức an táng theo mẫu I, nên để giáo dân chủ sự các nghi thức trong giai đoạn tại nhà tang và nghĩa địa, và cách chung, nen để giáo dân chủ trì các buổi canh thức cầu cho người quá cố. 20. Trong khi cử hành an táng, ngoài những phân biệt do chức bậc phụng vụ và Thánh chức, và ngoài những vinh dự dành cho các viên chức chính quyền theo tiêu chuẩn phụng vụ, thì trong các nghi lễ cũng như cách ừang ừí bên ngoài, không nên có sự phân biệt nào khác giữa các cá nhân cũng như các giai cap.
NHỮNG THÍCH NGHI
21. Chiếu theo Hiến chế về Phụng vụ thánh (số 63b), trong các sách Nghi thức riêng, Hội đồng Giám mục có quyền soạn thảo một mục tương tự như mục này cua Sách Nghi lễ Rôma, dành cho những thích nghi theo nhu cầu địạ phương, đổ sử dụng tại địa phương sau khi được Tông tòa phê chuẩn.
Trong việc
thích nghi này, 1/ Xác định các điều cần thích nghi theo giới hạn ấn định trong mục này. 2/ Cấn thận và khôn ngoan xét xem điều nào, theo truyền thống và tinh thần của mỗi dân tộc, có thể được tiếp nhận cách thỏa đang, roi đề nghị với Tông tòa những thích nghi được coi là có ích hay cần thiết, để sau khi Tông tòa phế chuẩn, sẽ đưa ra áp dụng. 3/ Nếu đã có những yếu tố riêng trong các sách Nghi thức của đia phương, thì được giữ lại, miễn là chung có thế dung hòa với Hiến chế về Phụng vụ thánh và với những nhu càu hiện tại, bằng không I thì có thể thích nghi chúng. 4/ Soạn thảo các bản dịch sao cho thật thích hợp với tinh thần ngôn ngữ và các nài văn hóa khác nhau, và khi thay thuận tiện thì nên dệt thêm những giai điệu thích hợp để hát. 5/ Thích nghi và bổ túc những điều cần biết trước có trong Sách Nghi lễ Rôma, để các thừa tác viên hiểu rõ ý nghĩa các nghi thức và cử hành cách hiệu quả. 6/ Khi xuất bản các sách Phụng vụ theo chỉ đạo của Hội đồng Giám mục, thì nên sắp xếp cách thích họp nhất cho việc sử dụng trong mục vụ, nhưng đừng để thiếu một điều nào trong nội dung của bản in mẫu này. Nếu thấy cần thêm luật chữ đỏ hoặc những bản văn khác, thì phải dùng một dấu chỉ hoặc kiểu chữ thích hợp để phân biệt với chữ đỏ và bản văn của Sách Nghi lễ Rôma.
22.
Khi soạn thảo những sách Nghi thức An
táng riêng,
1/ Sắp xếp
nghi thức theo một hoặc nhiều mẫu, 2/ Nếu thấy thuận tiện, có thể lấy những công thức ghi trong chương VI, thế vào những công thức đã được ghi trong nghi lễ chính. 3/ Khi nào sách Nghi thức Rôma trình bày nhiều công thức để tùy chọn, thị có thể thêm vào những công thức khác cung loại (theo tiêu chuẩn số 21, 6). 4/ Phán quyết xem có nên ủy nhiệm cho giáo dân cử hành nghi thức an táng hay không (x. số 19). 5/ Nơi đâu, lý do mục vụ khuyên là nên, thì có thệ quyết định bỏ việc rảy nước thánh và xông hương, hoặc thay thế bang một nghi thức khác. 6/ Chỉ định màu áo phụng vụ dùng trong nghi thức an táng sao cho vừa thích hợp với tâm tình các dân tộc, vừa không xúc phạm đến nỗi đau buồn của con người, đồng thời biểu lộ được niềm hy vọng của Kitô giáo dưới ánh sáng của mầu nhiệm phục sinh.
PHẬN SỰ CỦA LINH
MỤC
23.
Linh mục, sau khi xem xét các hoàn cảnh
khác nhau các năng quyền danh cho mình để thực hiện nghi thức. 24. Nghi thức được đề nghị cho mỗi mẫu đã được trình bày để có thệ thực hiện cách đơn gian. Tuy nhiên cũng cung cấp nhiều bản văn để tùy nghi sử dụng. Ví dụ: 1/ Nói chung, mọi bản văn đều có thể hoán chuyển cho nhau. Vì thế, vói sự cộng tác của cộng đoàn hay của gia đình, người ta sẽ tìm ra bản văn nào thích họp hơn với hoàn cảnh của mỗi lần cử hành. 2/ Có một số lòi nguyện không bắt buộc nhưng để tùy nghi thêm vào cho họp với hoan cảnh, ví dụ như lời nguyện cho những người đang đau buồn ừong tang gia. 3/ Theo truyền thống Ẹhụng vụ, có rất nhiều bản văn được đề nghị cho các cuộc rước đe có thể tùy nghi lựa chọn. 4/ Bất cứ khi nào thấy một thánh vịnh được chỉ định hay đề nghị vì lý do phụng vụ, ma có thể gây một khó khăn mục vụ nào đo, thì được tuy ý thêm một thánh vịnh khác vào thay cho thánh vịnh trước. Hơn nữa, nêu có một hai câu nào đó trong thánh vịnh xem ra ít thích họp theo khía cạnh mục vụ thì có thể bỏ. 5/ Bản văn các lòi nguyện luôn để ở số ít, nghĩa là cầu cho một người đã qua đời: bởi thế, trong mỗi trường họp, cần phải thích nghi bản văn sao cho thích họp với một hay nhiều người, nam hay nữ, già hay trẻế Ví dụ, phải nói tôi tớ Chúa hay các tôi tở Chúa, ỏng hoặc bà, anh hoặc chị tùy theo là một hay nhiều người, nam hay nữ, lớn tuôi hay còn trẻ v.v. 6/ Trong các lời nguyện, có thể bỏ các hàng chữ ở trong ngoặcỀ 25. Việc cử hành nghi lễ an táng cách thích hợp và xứng đáng, cũng như tất cả phận sự của linh mục đối vói người quá cố5 đòi phải có sự hiểu biết vể ý nghĩa của mầu nhiệm Kitô giáo và về bổn phận mục vụ. Xét chung, linh mục phải: 1/ Hiện diện với bệnh nhân và người hấg hối như được trình bày trong một chương riêng của Sách Nghi lê Rôma. 2/ Dạy giáo lý về ý nghĩa của sự chết theo Kitô giáo. 3/ Dịu dàng an ủi gia đình người quá cố, nâng đỡ họ trong lúc bối rối đau buồn và ngan nào có thể, nên quảng đại giúp đỡ họ và cùng với họ chuẩn bì việc cử hành nghi lễ an táng cach thích họp, theo các năng quyền được ban có ghi ừong chính nghi thức. 4/ Sau cùng, phải kết hợp phụng vụ an táng của những người đã qua đời với toàn thể nhịp sống phụng vụ của giáo xứ và với công việc mục vụ. |